cảm nhận bức tranh thiên nhiên tràng giang của huy cận Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận

Phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang trong thơ của Huy Cận để thấy đây là một bức họa đẹp mà buồn. Tác phẩm được kiến tạo bởi tâm hồn nhạy cảm của thi nhân cùng với tình yêu đất nước và thiên nhiên sâu đậm. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng DINHNGHIA.COM.VN tìm hiểu, phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang.

Mở bài cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si”

(Vội vàng – Xuân Diệu)

Những câu thơ trên là khúc hát say sưa yêu đời trước vẻ đẹp cuộc sống trần thế của Xuân Diệu. Cũng viết về thiên nhiên, nhưng Huy Cận lại mang đến một màu sắc khác. Không phải là những nốt nhạc tươi vui giục giã con người sống gấp để tận hưởng hương sắc của cuộc đời, mà đó là những nốt nhạc buồn du dương trước khung cảnh rộng lớn của thiên nhiên. Một nỗi buồn nhẹ nhàng man mác khắp cả đất trời – một nỗi buồn vạn kỷ rất riêng của Huy Cận. Qua bức tranh thiên nhiên Tràng giang, Huy Cận cũng đã giãi bày cả nỗi lòng mình.

Tìm hiểu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang

Trước khi phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận, người đọc cần nắm được những nét chính về tác giả cũng như tác phẩm.

Đôi nét về nhà thơ Huy Cận

Huy Cận (sinh năm 1919 – mất năm 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, ông học ở quê rồi vào Huế học hết trung học. Năm 1939, ông ra Hà Nội học trường cao đẳng Canh nông. Từ năm 1942, Huy Cận tích cực hoạt động trong mặt trận Việt Minh.

Ông tham dự Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền cách mạng và giữ nhiều trọng trách khác nhau. Năm 1996, ông được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Trong lĩnh vực văn học, Huy Cận đã có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà và là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới. Huy Cận yêu thích thơ Đường nhưng đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp. Vì thế trong thơ của Huy Cận, ta vừa bắt gặp những nét lãng mạn đậm chất phương tây lại vừa bắt gặp vương vấn trong mỗi vần thơ phong vị Đường thi.

Sáng tác của Huy Cận có thể chia ra làm hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng tám. Dù ở giai đoạn nào, Huy Cận cũng đạt được nhiều thành tựu. Trước cách mạng Tháng tám, có thể nhắc đến tập thơ Lửa thiêng (1937 – 1940), văn xuôi Kinh cầu tự (1942), tập thơ Vũ trụ ca (1940 – 1942). Sau cách mạng Tháng tám, ông có bút lực dồi dào hơn và có nhiều đổi mới.

Huy Cận tìm thấy sự hòa điệu giữa con người và xã hội. Điều đó được thể hiện trong các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm sáu mươi (1968)…

Tìm hiểu về bài thơ Tràng giang

Bài thơ Tràng giang được trích từ tập thơ Lửa thiêng. Vào năm 1939, một buổi chiều thu, ông đứng ở bờ nam bến Chèm. Khi nhìn thấy dòng chảy của sông Hồng, ông suy nghĩ về cuộc đời và sáng tác nên bài thơ này. Khung cảnh sông nước hữu tình cộng hưởng với tâm hồn đa cảm của nhà thơ đã gợi tứ cho “Tràng Giang”. Và tiêu đề của bài thơ đã là một điều gì rất đẹp nhưng buồn. Phân tích thiên nhiên Tràng giang, ta thấy đó là nỗi niềm của một cái tôi cô đơn lạc lõng giữa dòng chảy của cuộc đời được thể hiện rõ nét qua khung cảnh thiên nhiên.

cảm nhận bức tranh thiên nhiên tràng giang của huy cận Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận
Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận

Từ muôn đời nay, thiên nhiên vẫn luôn là người bạn tri âm tri kỷ của hồn mộng thi sĩ. Thiên nhiên gắn bó, đồng cảm và sẻ chia với thi nhân mọi xúc cảm cũng như nỗi lòng. Nếu như hoa lá cỏ cây say mê và rạo rực cùng tâm hồn sôi nổi Vội vàng của Xuân Diệu, trăng và đêm chao đảo điên cuồng cùng nỗi đau của Hàn Mặc Tử… và sông trời mây nước trong vũ trụ này sầu “ảo não” với nỗi buồn “vạn kỷ” của tâm hồn Huy Cận. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, sinh động nhưng cũng thấm đượm nỗi buồn tủi cô đơn của người nghệ sĩ.

Sự bao la rợn ngợp của sông nước

Bài thơ mở ra một bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, bàng bạc một nét đẹp cổ xưa. Vẫn là đề tài quen thuộc ấy, từ những thi liệu và bút pháp nghệ thuật vốn có trong thơ cổ, nhà thơ của Lửa thiêng đã vẽ nên trên nền trời mây, sông nước mênh mông vô cùng, vô tận những sự vật nhỏ bé, đặc trưng.

Trong quá trình phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, có lẽ điều khiến người đọc ấn tượng hơn cả là những hình ảnh như sóng gợn, thuyền trôi, gió đìu hiu, bến cô liêu, bèo dạt, mây cao, núi bạc, chim nghiêng… gợi nên cái hồn thiên nhiên của thơ ca từ bao đời này. Có lẽ, nếu cứ nhìn người ta vẫn ngỡ đó là không gian của cảnh đẹp tiêu sơ và vắng lặng vốn thấy trong thơ Đường. Thế nhưng, bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện ra trước hết là khung cảnh rợn ngợp bao la của đất trời.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh những con sóng nối tiếp, nối tiếp nhau đến tận chân trời. Sự kéo dài của những cơn sóng như bất tận tạo cảm giác dường như không gian cũng được mở rộng ra. Từ “gợn” được tác giả dùng thật khéo không chỉ gợi được sự chuyển động của sóng nước mà còn gợi được một cảm giác mơ hồ, nhẹ nhàng nhưng day dứt xao xuyến mãi không nguôi như những cơn sóng vẫn miệt mài ngày đêm xô vào bờ. Từ “gợn” ấy ta cũng từng bắt gặp trong ca dao

“Chiều chiều bước xuống ghe buôn

Sóng bao nhiêu gợn dạ em buồn bấy nhiêu”

(Ca dao)

Con sóng của đại dương hay chính là con sóng của tâm hồn đang xao xuyến? Cảm giác mơ hồ ấy ngày càng mạnh mẽ hơn để rồi bộc bạch trực tiếp thành một nỗi niềm “buồn điệp điệp”. Từ láy “điệp điệp” thường được dùng để diễn tả cảnh núi non hùng vĩ hay khung cảnh hùng tráng trong Việt Bắc.

“Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Còn trong câu thơ của Huy Cận, bức tranh thiên nhiên Tràng giang với “điệp điệp” lại được dùng để chỉ nỗi buồn. Nỗi buồn vốn là một trạng thái cảm xúc vô hình chỉ có thể cảm thấy nhưng trong kết hợp này nỗi buồn ấy lại có hình có khối. Nỗi buồn ấy theo con nước mà tràn đầy. Đứng trước khung cảnh rợn ngợp của thiên nhiên ấy mấy ai mà không thấy buồn mấy ai mà không thấy mình nhỏ bé bất lực.

Bởi lẽ đó mà “con thuyền xuôi mái”. Con thuyền dường như cũng thấy mình bất lực trước dòng chảy. Dù có cố gắng mấy nhưng cuối cùng con thuyền vẫn xuôi theo dòng nước không thể cưỡng lại được. Đó cũng là sự bất lực của con người trước dòng chảy của thời gian. Giữa sự chảy trôi tuyến tính của thời gian, sự xuất hiện của con người chỉ như mây khói thoáng qua.

Phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, ta thấy từ “song song” bỗng nhiên như vạch ra ranh giới giữa con thuyền và sóng nước gợi ra một cảm giác về sự chia li. Ở hai dòng thơ đầu, nghệ thuật đối của thơ Đường đã được vận dụng tinh tế trong cách sử dụng từ láy. “Điệp điệp” đối với “song song”. Không chỉ đối về mặt thanh điệu mà còn đối với nhau về ý. Cả hai cùng gợi ra một không gian rộng lớn chất chứa nỗi buồn nhân thế.

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền và nước vốn gắn liền nhau nhưng trong khổ thơ đầu lại chia lìa nhau. Nếu ở câu thơ trên, thuyền và nước dường như “song song” thì ở dòng thơ này thuyền và nước lại tách rời nhau mỗi nơi mỗi ngả. Sự chia li của cảnh vật hay cũng chính là sự chia li của lòng người.

Nghệ thuật tiểu đối “thuyền về nước lại” càng nhấn mạnh thêm nỗi niềm ấy. Nếu ở trên là “buồn điệp điệp” thì bây giờ lại là “sầu trăm ngả”. Ở trạng thái “sầu” ta bắt gặp một cảm xúc có phần mạnh mẽ, mãnh liệt và ám ảnh hơn “buồn”. Như trong câu thơ của Nguyễn Du “Sầu đông càng lắc càng đầy”.

Nỗi sầu ấy không chất chồng chất đống mà lan tỏa ra khắp “trăm ngả”. “Trăm” là một con số ước lệ chỉ số lượng nhiều. “Trăm ngả” không phải là hướng chảy của dòng nước mà là của nỗi sầu. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn thể hiện ở nỗi sầu theo con sóng xô dạt đến tận chân trời xa. Con sóng lòng bất tận ấy ta cũng từng bắt gặp trong vần thơ nhẹ nhàng đằm thắm nhưng không kém phần da diết của Xuân Quỳnh.

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Giữa không gian rộng lớn mênh mông, không chỉ có sự xuất hiện nhỏ bé của chiếc thuyền mà bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được điểm tô thêm bằng sự xuất hiện của cành củi khô.

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Kết cấu đảo ngược đã nhấn mạnh thêm sự xuất hiện của cành củi. Đây là một hình ảnh độc đáo. Khi nói về sự nhỏ bé của kiếp người, thi nhân thường dùng hình ảnh chiếc thuyền

“Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh

Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”

(Tự tình III – Hồ Xuân Hương)

Hay như tác giả dân gian so sánh với:

“Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”

(Ca dao)

Nhưng Huy Cận lại thể hiện số phận nhỏ bé của con người qua hình ảnh cành củi. Bản thân hình ảnh cành củi đã gợi lên một sự nhỏ bé chỉ đành lênh đênh trôi nổi trên dòng nước không có bến bờ để neo đậu nhưng đó còn là một cành củi khô. Không chỉ cô đơn mà còn là một sự khô héo đến thiếu sức sống.

Lần đầu tiên trong thơ văn xuất hiện hình ảnh cành củi khô tuy đơn sơ nhưng lại giàu sức gợi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ, cô quạnh mênh mông trên sóng nước cũng là hình ảnh con người bơ vơ đến tận cùng giữa vòng xoáy của cuộc đời. Đó cũng là tâm trạng của thi nhân khi đứng trước dòng sông rộng lớn bao la mà nghĩ về cuộc đời.

Bãi bờ quạnh vắng cô đơn

Sự cô đơn không chỉ xuất hiện ở nơi dòng sông rộng lớn mênh mông mà còn xuất hiện ở khung cảnh hai bên bờ sông.

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với cảnh vật đa dạng và phong phú. Không gian cũng được mở rộng hơn. Từ không gian hẹp của cồn nhỏ, chợ chiều đến không gian rộng lớn của sông dài trời rộng. Tất cả ngơ như đầy sức sống nhưng cuối cùng lại chìm trong sự tịch liêu. Từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi lên sự buồn bã quạnh vắng.

Nghệ thuật tăng cấp càng khiến cho không gian tịch mịch hơn. Chợ đã tàn người cũng tàn vốn đã buồn chợ chiều nay càng buồn hơn. Âm thanh chợ tàn ấy vang vọng từ xa đến nơi đây. Từ “đâu” vang lên vừa như một âm thanh mơ hồ xa xôi vừa như một là tự hỏi âm thanh ấy từ đâu mà vang vọng lại.

Dấu hiệu của cuộc sống xuất hiện nhưng không tương vui giòn giã, thúc giục như bản hòa ca của cuộc sống mà im vắng. Nghệ thuật tiểu đối lại một lần nữa phát huy hiệu quả trong kết hợp đặc biệt “nắng xuống trời lên”. Nắng và trời bỗng chốc như tách rời nhau để mở rộng không gian. “Xuống” và “lên” là hai chiều hướng ngược nhau đặt trong cùng vế đối khiến cho không gian như được kéo dãn ra cùng với nỗi niềm của con người.

Có phải vì lẽ đó mà không gian trở nên “sâu chót vót”. Từ láy “chót vót” vốn được dùng để chỉ độ cao nhưng Huy Cận lại dùng từ láy này để gợi mở độ sâu. Phải chăng đây là một dụng ý nghệ thuật của thi nhân. Cách kết hợp ấy đã khiến không gian của bức tranh thiên nhiên Tràng giang như được đẩy ra hết mọi chiều kích của vũ trụ. Càng rộng, càng sâu, càng cao thì cảnh vật càng thêm vắng lặng. Nỗi buồn tựa hồ thấm đẫm trong cả không gian.

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn hiện lên với hình ảnh bèo được dùng để diễn tả số phận con người bấp bênh vô định. Và Huy Cận cũng dùng hình ảnh cánh bèo trong thơ mình để một lần nữa nhấn mạnh sự nhỏ bé bấp bênh của đời người. Bèo dạt không phải nương theo cơn sóng để sinh tồn là mặc cho cơn sóng xô đẩy. Không phải là một cánh bèo mà cả là một hàng. Hàng nối hàng nối tiếp nhau nhưng đau lòng hơn đó không là cuộc sống của một kiếp người mà là của một bộ phận không nhỏ thanh niên trong hoàn cảnh xã hội bế tắc đương thời.

Từ láy mênh mông đứng đầu dòng thơ diễn tả được sự rộng lớn bao la của không gian. Điệp từ “không” xuất hiện liên tiếp trong hai dòng thơ gợi sự vắng vẻ cô đơn tuyệt đối.  Thi nhân như từ chối mọi mối quan hệ, dường như tự cô lập mình với cuộc đời xung quanh và cũng đồng thời phủ nhận mối liên kết giữa người với người.

Chính vì không có mối liên kết nào mà con người đứng trước không gian rộng lớn dễ rơi vào trạng thái cô đơn. Từ láy lặng lẽ đứng đầu câu càng tăng thêm sự vắng lặng đến nao lòng của không gian. “Xanh”, “vàng” là những gam màu tươi sáng. Sự xuất hiện này điểm tô thêm những gam màu tươi sáng cho bức tranh thiên nhiên nhưng không xua đi được nỗi cô đơn giá băng của lòng người.

Bóng chiều cùng nỗi nhớ quê

Tiếp đến là khung cảnh thiên nhiên Tràng giang ở hai bên bờ, tầm mắt của thiên nhiên lại hướng lên trên và cũng như phóng tầm nhìn ra xa hơn nơi chân trời để thấy

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Câu thơ mở đầu bằng từ láy “lớp lớp” diễn tả số lượng nhiều. Những đám mây như chất chồng chất đống vào nhau hết lớp này đến lớp khác. Huy Cận đã sử dụng tinh tế động từ “đùn”. “Đùn” không chỉ diễn tả sự chồng chất của đối tượng mà còn diễn tả được sức sống như đang căng tràn xô đẩy nhau, gợi được vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên – núi mây khổng lồ được vạt nắng chiếu vào tạo thành hình ảnh núi bạc. Ta cũng từng bắt gặp từ đùn ấy trong ý thơ của Nguyễn Trãi

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”

(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)

Giữa đám mây bao la là cánh chim nhỏ bé đối lập với không gian rộng lớn. Thế nhưng, giữa hai đối tượng không có từ liên kết như một khoảng trống giữa câu thơ gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn thể hiện ở cánh chim như đang chở nặng bóng chiều, vì bóng chiều mà cánh chim bỗng trở nên nhỏ bé hơn? Hay vì cánh chim chao lượn như kéo cả bóng chiều? Dù hiểu theo cách nào ta vẫn thấy cánh chim cô đơn giữa một khoảng không mênh mang. Cánh chim bơ vơ lạc lõng hay chính lòng người cũng hoang mang tìm kiếm một điểm tựa.

Một khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, hùng vĩ xuất hiện. Trên phông nền thiên nhiên là cả một tấm lòng dành cho đời.

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Lòng quê chính là tình cảm thiêng liêng dành cho quê hương đất nước. Câu thơ gợi lên cảm giác xốn xang, không dứt, trở đi trở lại như một nỗi ám ảnh. Từ đó cho thấy tình yêu với đất nước quê hương như lan tỏa thấm đãn theo từng con nước. Nỗi nhớ vì vậy mà trở nên da diết hơn.

Thôi Hiệu nhìn thấy làn khói sóng mờ ảo trên sông mà nhớ đến quê nhà. Còn Huy Cận không cần một dấu hiệu gợi nhắc mà tình cảm ấy lại ùa về tràn ngập tâm hồn. Tiếng sóng của không gian biển lớn bao la hay chính là tiếng sóng lòng của nhà thơ, cuồn cuộn không nói nên lời.

Đây chính là nỗi niềm của một người đứng trên quê hương mà lại nhớ về quê hương. Và đó cũng là nguyên nhân sâu xa cũng nỗi cô đơn, sự bất lực trước thực tại. Liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn đất nước lúc bấy giờ ta càng thấu hiểu thêm tâm trạng của thi nhân khi đứng trước cảnh sông dài trời rộng nhưng bến lại là bến bờ quạnh vắng cô liêu.

phân tích bức tranh thiên nhiên tràng giang Cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang của Huy Cận
Phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang trong thơ Huy Cận

Nhận xét tác phẩm khi phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang được vẽ lên bởi những hình ảnh đơn sơ mộc mạc nhưng giàu sức gợi. Một thi hứng tưởng chừng quen thuộc trong thơ ca – nỗi buồn nhân thế trước cảnh trời đất cô liêu nhưng trong niềm cảm hứng của Xuân Diệu lại mang một vẻ đẹp rất riêng vừa quen thuộc lại vừa mang màu sắc riêng.

Bài thơ có sự vận dụng kết hợp nhuần nhị giữa bút pháp hiện đại và bút pháp cổ điển. Ẩn trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn là bức tranh tâm trạng của thi nhân. Một nỗi buồn da diết nhẹ nhàng nhưng đầy ám ảnh trong từng câu từng chữ. Đó là nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn bao la. Tuy nhiên le lói đâu đó ta vẫn thấy được một sự khát khao giao cảm hòa nhập với cuộc đời của thi nhân.

Bởi vậy bức tranh thiên nhiên Tràng giang nói riêng hay thiên nhiên trong Thơ mới nói chung, dẫu đẹp đến đâu nhưng vẫn đượm buồn. Đó là cái nét yên ắng, tách rời nhau trong những sự vật trên của thiên nhiên nhưng thực chất được gợi dậy từ một tâm hồn buồn trong lòng người thi nhân.

Nhà thơ của tập Lửa thiêng như chở nỗi sầu quá lớn, thậm chí là nỗi sầu của cả một thế hệ nên không gian trong thơ ông cứ nới rộng ra mà lòng người vẫn u uất. Không gian trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang càng lớn thì con người càng nhỏ bé, cô đơn và lạc lõng.

Nhưng đằng sau những xúc cảm ấy, người đọc vẫn nhìn thấy những lắng đọng về tâm sự thầm kín của thi nhân. Huy Cận có lẽ phải yêu và gắn bó với mảnh đất quê hương lắm, mới nhìn đâu cũng thấy ám ảnh bởi nỗi buồn. Nhà thơ đứng trên đất quê mình, cảnh đẹp quê mình mà sao đâu đâu cũng thấy vắng lặng, tàn lụi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được khơi dậy bởi nỗi nhớ nhà ở cuối bài thơ, giúp xóa nhòa cái cảm giác thiếu thốn ngay khi ở trên quê hương.

Kết bài: Khi cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang, người đọc nhận ra bài thơ cũng chính là tiếng lòng của Huy Cận đối với cuộc đời này. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang không tách biệt mà hòa cùng nỗi niềm của con người – một nỗi buồn vạn cổ. Giữa sự nhỏ bé của con người trước dòng đời, thi nhân cũng đã tìm thấy được bến đỗ, điểm tựa – đó chính là quê hương. Bài thơ đã khép nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi như những cơn sóng cứ xô mãi xô mãi vào lòng người đọc.

Dàn ý phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang

Mở bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang

  • Giới thiệu đôi nét về tác giả Huy Cận cùng tác phẩm Tràng giang.
  • Dẫn dắt về chủ đề thiên nhiên trong thơ ca xưa nay, từ đó liên hệ bức tranh thiên nhiên Tràng giang.

Thân bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang

  • Bức tranh thiên nhiên Tràng giang thể hiện sự bao la rợn ngợp nơi sông nước.
  • Bãi bờ quạnh vắng cô đơn trong xúc cảm của thi nhân.
  • Bóng chiều và nỗi nhớ quê hương da diết.

Kết bài về bức tranh thiên nhiên Tràng giang

  • Đánh giá lại tác giả tác phẩm.
  • Đánh giá nội dung về bức tranh thiên nhiên Tràng giang.

Nhà thơ Huy Cận đã miêu tả bức tranh thiên nhiên Tràng giang với những gì vốn có, thậm chí cả những thứ quá nhỏ bé, tầm thường. Có thể thấy, dưới con mắt đa sầu, đa cảm của nhà thơ Huy Cận đã biến hóa nó thành những hình ảnh đầy chất nghệ thuật. Như vậy, khi phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, ta còn nhận thấy cái đẹp không phải cứ phải hiện lên qua những cảnh sắc lung linh, mà đôi khi chỉ cần có sự giao hòa với tâm hồn thi sĩ thì mọi thứ đều trở nên đẹp và có hồn.

Xem thêm >>> Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Tràng giang của Huy Cận – Ngữ Văn 11

Xem thêm >>> Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong Tràng Giang của Huy Cận – Văn học 11

Xem thêm >>> Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ – Ngữ Văn lớp 11

Hy vọng với bài viết trên đây về chủ đề phân tích và cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang, bạn đã có thêm những kiến thức hữu ích phục vụ cho quá trình học tập. Chúc bạn luôn học tốt!

Tác giả: Việt Phương

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *