ánh sáng và bóng tối trong chữ người tử tù và hai đứa trẻ Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật nòng cốt giúp “khai thác hình tượng đối với cuộc sống cũng như thu hút độc giả”. Có thể thấy, ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ đã thể hiện thế giới nghệ thuật riêng biệt và độc đáo cũng như mang đậm phong cách cá nhân của tác giả. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng DINHNGHIA.COM.VN tìm hiểu, cảm nhận, so sánh và phân tích cụ thể ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.

Mở bài: Nhắc đến văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, người ta nghĩ ngay đến những sự thay đổi mạnh mẽ trên bình diện thơ. Nhưng bên cạnh thơ, văn xuôi trong giai đoạn này cũng đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Bên cạnh những nỗ lực đổi mới của Tự lực văn đoàn, người đọc còn nhớ đến một giọng văn tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân hay một chất giọng tự sự giàu xúc cảm của Thạch Lam. Sự xuất hiện của Nguyễn Tuân cũng như Thạch Lam trên văn đàn Việt Nam đã mang đến những dấu ấn riêng biệt không phai nhòa theo năm tháng. Tác phẩm mang đậm dấu ấn của Nguyễn Tuân phải nhắc đến là Chữ người tử tù. Và tác phẩm Hai đứa trẻ đã ghi nhận phong cách rất sâu đậm của Thạch Lam. Qua việc khắc họa ánh sáng và bóng tối, cả hai nhà văn đã nhắn gửi người đọc bao điều.

Tìm hiểu về các tác giả và tác phẩm

Trước khi đi phân tích và so sánh ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ, chúng ta cần nắm được đôi nét về hai tác giả cũng như hai tác phẩm này như sau.

Đôi nét về Nguyễn Tuân và Thạch Lam

Nhà văn Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân sinh năm 1910 mất năm 1987, quê ở Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Từ nhỏ, ông đã theo gia đình sống nhiều năm ở miền Trung. Nguyễn Tuân học đến cuối bậc thành chung ở Nam Định sau đó về Hà Nội viết báo làm văn. Cách mạng tháng tám thành công, Nguyễn Tuân không còn tìm đến vẻ đẹp một thời vang bóng của quá khứ.

Ông tìm đến với cuộc sống đời thường và tự nguyện dùng ngòi bút của mình để phục vụ cho hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Từ năm 1945 đến năm 1958, ông là Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1996, Nguyễn Tuân được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn suốt đời tìm kiếm cái đẹp.

Nguyễn Tuân có một vị trí quan trọng và đóng góp to lớn cho văn học Việt Nam hiện đại. Ông đã thúc đẩy thể tùy bút phát triển đạt đến  một trình độ nghệ thuật cao, góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc đem đến cho văn đàn một phong cách tài hoa và độc đáo. Một số tác phẩm tiêu biểu phải kể đến Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1940), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972),…

Trong đó, tác phẩm tiêu biểu nhất trong giai đoạn trước 1945 phải kể đến tập truyện Vang bóng một thời. Tập truyện này gồm 11 truyện ngắn. Tác phẩm là kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng tám.

Nhân vật chính trong Vang bóng một thời phần lớn là những nho sĩ cuối mùa là những con người tài hoa bất đắc chí. Giữa lúc Hán học suy tàn, thời buổi Tây Tàu nhố nhăng, những con người này tuy buông xuôi bất lực nhưng trong nội tâm vẫn có sự mâu thuẫn sâu sắc với thực tại, vẫn luôn cố gắng giữ “thiên lương trong sạch”.

Nhà văn Thạch Lam

Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sinh năm 1910 – mất năm 1942, sinh ra ở Hà Nội. Thạch Lam xuất thân từ một gia đình công chức gốc quan lại đồng thời ông cũng là cây bút chủ chốt của nhóm Tự lực văn đoàn cùng với hai người anh của mình là Nhất Linh và Hoàng Đạo.

Thuở nhỏ tác giả sống ở phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Sau đó, ông học ở Hà Nội và tham gia viết báo, viết văn khi đỗ tú tài phần thứ nhất. Ông được biết đến là người đôn hậu tinh tế có quan niệm văn chương lành mạnh tiến bộ và có biệt tài về truyện ngắn. Phong cách truyện ngắn của ông thường không có cốt truyện mà đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh mơ hồ.

Mỗi tác phẩm của nhà văn đều như một bài thơ trữ tình với giọng điệu điềm đạm, chứa đựng biết bao yêu thương chân thành và sự nhạy cảm của ông trước sự thay đổi của cuộc đời và của lòng người. Hai yếu tố hiện thực và lãng mạn hài hòa với nhau tạo nên một giọng văn riêng mang đậm dấu ấn của Thạch Lam. Các sáng tác của Thạch Lam có thể kể đến Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942), tiểu thuyết Ngày mới (1939), tiểu luận Theo dòng (1941), tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943).

Giới thiệu về Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Tác phẩm Chữ người tử tù

Khi phân tích ánh sáng và bóng tối trong chữ người tử tù, ta thấy tác phẩm này ban đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng in năm 1938 trên tạp chí Tao Đàn. Câu chuyện bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ éo le giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Trong tác phẩm ấy, người đọc không chỉ bị thu hút bởi tài năng và thiên lương của Huấn Cao và viên quản ngục mà còn bị ấn tượng bởi ánh sáng và bóng tối.

Tác phẩm Hai đứa trẻ

Hai đứa trẻ được trích trong tập truyện Nắng trong vườn (1938). Tác phẩm kể về người dân nơi phố huyện nghèo với cuộc sống tối tăm khó khăn buôn bán trên ga xép, nổi bật là hai chị em An và Liên. Hai đứa trẻ từ giã cuộc sống Hà Nội để chuyển đến một ga xép nghèo.

Mẹ nghèo làm hàng xáo còn hai chị em thì buôn bán tạp hóa nhỏ trong gian hàng thuê của người khác. Như mọi ngày, hai đứa trẻ trong tác phẩm vẫn lặp đi lặp lại vòng tròn đơn điệu của cuộc sống buôn bán lặt vặt. Niềm an ủi duy nhất của chúng chính là được nhìn thấy chuyến tàu đêm.

Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Với hai tác phẩm này, ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ hiện lên với những nét rất riêng biệt. Cùng tìm hiểu chi tiết trong từng tác phẩm qua phân tích dưới đây.

Phân tích ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử từ

Không gian tù túng thể hiện ánh sáng và bóng tối

Ánh sáng và bóng tối trong chữ người tử tù trước hết đến từ khung cảnh thiên nhiên cũng như khung cảnh tù túng nơi làm việc của viên quản ngục. Đầu tiên chính là thời gian nghệ thuật của cốt truyện. Viên quản ngục hiện ra trong thời gian đêm tối cô đơn “Trên bốn chòi canh, nhục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt”. Đó là một thời gian nghệ thuật độc đáo thường được các nhà văn nhà thơ vận dụng làm cơ sở để tạo ra tình huống.

Đêm tối ấy chính là lúc con người sống thật với lòng mình, gạt bỏ những bộn bề của công việc, cuộc sống thường nhật. Đối diện với đêm tối cũng là lúc con người đối diện với chính mình, với sự cô đơn. Chính vì vậy, con người dễ dàng giãi bày nỗi lòng. Và thời gian ấy cũng khiến không gian trở nên rộng lớn hơn. “Những tiếng kiểng và mõ đều đặn thưa thớt” vang lên.

ánh sáng và bóng tối trong chữ người tử tù còn thể hiện ở âm thanh của không khí mù mịt, âm u mà càng khiến lòng người cô quạnh. Giữa không gian thời gian ấy, cuộc đối thoại rời rạc, e ấp và có phần nghi nhại của thầy thơ lại và viên quản ngục như tô đậm thêm không gian tù túng nơi đây. Viên quản ngục hiện lên với những nét phác họa trong một khung cảnh le lói ánh sáng của cây đèn dầu.

“Nơi góc chiếc án thư cũ đã nhợt màu vàng son, một cây đèn đế leo lét rọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi”. Đó là khuôn mặt trầm tư suy nghĩ của viên quản ngục. Khuôn mặt ấy cũng như nỗi lòng của viên quản ngục bấy giờ. Ông đang băn khoăn vì một lẽ – nhà tù này sắp đón một tên tử tù hết sức nguy hiểm mà quan trọng hơn đó còn là ông ngưỡng mộ khát khao gặp bấy lâu nay. Viên quản ngục đảm nhiệm chức quản ngục sống giữa gông xiềng tội ác – nơi “người ta sống với nhau bằng lừa lọc, bằng tàn nhẫn”.

Hằng ngày viên quản ngục phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn, chứng kiến bao điều xấu xa chốn nhà giam u tối. Hoàn cảnh ấy dễ đẩy con người vào đường cùng, bùn nhơ, nhấn chìm nhân cách con người vào vòng xoáy tội ác của nó. Thế nhưng có ai ngờ cái ước mơ, sở nguyện duy nhất của viên quản ngục là “có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết”.

Chính vì vậy, khi biết tin Huấn Cao sẽ bị giam đến đây thì ông vừa mừng vừa lo. Ông vui mừng bởi lẽ người mà ông ngưỡng mộ bấy lâu cuối cùng cũng có thể gặp mặt. Ông lo bởi lẽ ông không biết làm sao có thể đối mặt với Huấn Cao và phải đối xử thế nào với Huấn Cao giữa chốn ngục tù này. Ánh đèn dầu leo lét giữa đêm tối cũng như sự xuất hiện của viên quản ngục nơi đây.

Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù còn thể hiện ở ánh đèn dầu tuy nhỏ nhưng vẫn mang đến cho không gian tăm tối chút ánh sáng hy vọng. Viên quản ngục được Nguyễn Tuân nhận xét “là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn lộn xô bồ”. Một tâm hồn thuần khiết lại sống giữa nơi tăm tối, một người tốt lại sống giữa một vòng xoáy tội ác. Giữa không gian tràn đầy bóng tối ấy không chỉ có ánh sáng của ánh đèn dầu mà còn có sự xuất hiện của một vì sao lạc “Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân giời không định”.

Bầu trời đêm vốn u ám nhưng cũng là lúc khiến cho vẻ đẹp tinh tú dù nhỏ bé cũng trở nên lấp lánh hơn. Và cũng chính vì đêm tối mà người ta càng thêm trân trọng ánh sáng. Không gian huyền ảo của bầu trời còn được khuấy động bởi âm thanh của “tiếng dội chó sử ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ láy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”. Ngôi sao ấy xuất hiện bất ngờ nhưng làm sáng cả bầu trời đêm, phải chăng đó là Huấn Cao.

Nhưng tiếc thay, ngôi sao ấy cũng sắp vụt tắt. Dù lấp lánh đến đâu cũng khó tránh khỏi số phận. Ngôi sao ấy đã phần nào dự báo số phận của Huấn Cao. Ở bức tranh thiên nhiên, không gian và thời gian phủ đầy một màu đen tối nhưng trong bóng tối vẫn ánh lên những tia sáng.

Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù còn thể hiện rõ nét rằng đó không chỉ là ánh sáng của ngọn đèn dầu, của vì sao mà đó còn là ánh sáng toát lên từ viên quản ngục đặc biệt này. Đó là vẻ đẹp của thiên lương, là niềm tin của tác giả về thiên lương của con người dù trong hoàn cảnh nào, ta vẫn có thể bắt gặp được thiên lương của con người. ngôi sao chính vị sắp từ biệt vũ trụ, tất cả như chòng chành giữa hai thế đứng để rồi ánh sáng của thiên lương tuy nhỏ nhoi vẫn chiến thắng, dẫn đến một thái độ ứng xử đẹp.

Cảnh cho chữ của người tù thể hiện ánh sáng và bóng tối

Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù nổi bật nhất là trong cảnh cho chữ – một khung cảnh xưa nay chưa từng thấy. Người tử tù Huấn Cao vốn là người có tâm hồn nghệ sĩ yêu thích tự do và chán ghét những kẻ nhũng nhiễu nhân dân. Chính vì vậy, Huấn Cao đã đứng lên chống lại chính quyền. Ngoài ra, ông còn là người nghệ sĩ tài năng yêu thích cái đẹp và luôn giữ gìn thiên lương trong sáng.

Huấn Cao trên lĩnh vực nghệ thuật cũng có nguyên tắc riêng của mình, ông viết chữ nổi tiếng nhưng chỉ cho những người yêu quý cái đẹp, không bao giờ cúi đầu trước uy quyền và đồng tiền. Huấn Cao sáng tác nghệ thuật nhưng không bán nghệ thuật. Vì vậy, lúc đầu dù viên quản ngục tốt với Huấn Cao bao nhiêu nhưng Huấn Cao vẫn dửng dưng không quan tâm đến viên quản ngục.

Nhưng khi hiểu được tấm lòng của viên quản ngục, Huấn Cao đã đồng ý cho cái sở nguyện xin chữ ấy của viên quản ngục. Cảnh cho chữ nằm ở cuối truyện nhưng lại là phần trung tâm thể hiện giá trị nghệ thuật. Khung cảnh cho chữ diễn ra vào thời gian đêm tối, khi “chỉ còn vẳng tiếng mõ trên vọng canh”. Giây phút này quý giá hơn bởi đó còn là những khoảnh khắc cuối cùng của con người tài hoa.

Không gian cho chữ thường là nơi gác sách trang nhã, thơm mùi giấy hay một không gian trang trọng cao sang nhưng trong khung cảnh lúc bấy giờ đó chỉ là “một căn buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián”. Một không gian tối tăm, một thời khắc sắp vĩnh biệt cuộc sống nhưng đó cũng là khi Huấn Cao sáng tạo nên một tác phẩm nghệ thuật như một di ngôn của mình.

Trong không gian ấy được thắp sáng bởi “khói tỏa như đám nhà cháy, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú  trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dịu mắt lia lịa”. Giữa không gian tối đen bởi màn đêm buông xuống, bởi không gian tăm tối ngục tù, nhưng được bừng sáng từ ánh sáng của bó đuốc, của tấm lụa.

Trong không gian ấy hiện lên là Huấn Cao “một người tù cổ đeo gông, chân mang xiềng xích, đang giậm tô từng nét trên tấm lụa trắng tinh” – người tử tù bị mất tự do nhưng lại hiên ngang, trở thành người nghệ sĩ, viên quản ngục đứng chờ Huấn Cao viết xong từng nét chữ thì vội “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng” và thầy thơ lại run run.

Xét về bình diện xã hội Huấn Cao là người chống lại trật tự xã hội, viên quản ngục lại là người đại diện cho trật tự xã hội đó. Nhưng xét trên bình diện nghệ thuật, thì Huấn Cao là người tạo ra cái đẹp, viên quản ngục là người thưởng thức và trân trọng cái đẹp. Người tưởng đang trong tư thế tự do nhất hóa ra lại “khúm núm, sợ sệt”, còn người tù mang gông xiềng tưởng chừng mất tự do hóa ra lại là người tự do nhất lúc này.

Khi phân tích ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù, ta thấy chỉ trong một cảnh cho chữ mà có sự đan xen giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Nhưng trong không gian đầy mùi ẩm ốc, tối đen ấy, Huấn Cao lại không cảm thấy khó chịu mà cái đọng lại chỉ còn là ánh sáng của bó đuốc, mùi thơm của giấy. Huấn Cao nói về mùi thơm của mực: “Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?…”. như thể ông không hề đang ở trong tù, không còn bóng tối, cũng không còn mạng nhện, phân chuột, phân gián nữa. Chỉ còn lại sự thơm tho của mực, sự tinh khiết của lụa – nó là sự thơm tho và tinh khiết của thiên lương con người.

Bó đuốc ấy còn là ánh sáng thiên lương của cái đẹp mà Huấn Cao đã tạo ra để soi đường tương lai cho viên quản ngục. Bóng tối kia hay chính là cái xấu, cái ác. Hình ảnh bó đuốc xua bóng tối cũng chính là ẩn dụ cho tài năng xua đi cái ác, sinh sôi từ cái ác. Huấn Cao không chỉ tặng chữ mà ông còn truyền giao cả lý tưởng hướng thiện đến cho viên quản ngục. Từ đó, tô đậm chủ đề của tác phẩm – cái thiện tuy mỏng manh nhưng bất diệt và có thể hướng con người về chân thiện mỹ. Cuối cùng rồi cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, ánh sáng sẽ đẩy lùi bóng tối.

Với việc sử dụng ngôn ngữ giàu tính tạo hình kết hợp với cái đa ngành – hội họa và điện ảnh, Nguyễn Tuân đã tạo nên một khung cảnh xưa nay chưa từng có trong một tình huống đầy éo le, ngang trái. Đặc biệt là những liệu pháp sử dụng để thể hiện ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù.

Bức cảnh ấy tuy chỉ được sử dụng hai màu sắc tương phản đối lập nhau của ánh sáng và bóng tối, nhưng khung cảnh ấy không nhạt nhòa mà càng thêm nổi bật và khắc sâu vào lòng người. Ánh sáng đến từ thiên lương chính là ánh sáng rực rỡ nhất, cũng chính là ánh sáng của sự giao hòa giữa cái đẹp và cái thiện. Thông điệp ấy đến giờ phút này tuy trải qua bao thay đổi của thời gian nhưng vẫn còn nguyên giá trị của nó.

Phân tích ánh sáng và bóng tối trong Hai đứa trẻ

Khác với ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù, tác phẩm Hai đứa trẻ được nhà văn thể hiện điều này một cách rất khác biệt. Ánh sáng và bóng tối trong Hai đứa trẻ được nhà văn Thạch Lam sử dụng như một thủ pháp chính trong nghệ thuật của tác phẩm.

Bóng tối trong không gian của phố huyện

Bối cảnh là không gian phố huyện buồn tẻ với thời gian là một buổi chiều “êm ả như ru” đang sắp nhường chỗ cho bóng đêm, hay “dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. Khung cảnh phố huyện của tác phẩm là trong bóng tối gợi không khí buồn buồn, hiu hắt, chậm chậm, đơn điệu của cuộc sống nơi đây.

Bóng tối ngập đầy trong đôi mắt của Liên khi số phận của lũ trẻ bới rác và những người lao động nghèo ở đây cũng nhạt nhòa trong bóng tối. Bối cảnh phố huyện cùng với tâm trạng nhân vật được Thạch Lam xây dựng vào những thời điểm khác nhau: lúc hoàng hôn, khi đêm về và lúc đêm đã khuya.

Trong ánh sáng của ngọn đèn leo lét trên chõng hàng chị Tý, trên bếp lửa của bác Siêu và những hột sáng lọt qua phên nứa từ ngọn đèn của chị em Liên, những con người ở đây hiện lên như những cái bóng vật vờ không số phận, không tính cách. Họ như chờ đợi một điều gì đó mới mẻ, khác lạ so với cảnh đời buồn tẻ, quẩn quanh, tù hãm của cái “ao đời bằng phẳng” hàng ngày họ nếm trải.

ánh sáng và bóng tối trong chữ người tử tù và hai đứa trẻ Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Ánh sáng trong Hai đứa trẻ thể hiện ở thiên nhiên và ước mơ của họ

Bầu trời huyền ảo trong Hai đứa trẻ là phương tây đỏ rực như lửa cháy hay ánh sáng của ngàn sao ganh nhau lấp lánh, đó còn là vệt sáng của những con đom đóm, từ ngọn đèn trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo loét trong nhà ông Cửu hay những ánh sáng xanh trong hiệu khách…

Ánh sáng trong Hai đứa trẻ còn thể hiện từ ngọn đèn của chị Tí, khe ánh sáng từ một vài cửa hàng còn thức hay một chấm lửa ở phía huyện, ánh sáng đèn lồng của những người làm công ở hiệu khách đi đón bà chủ về…

Xem chi tiết >>> Hình ảnh ánh sáng và bóng tối Hai đứa trẻ của Thạch Lam

So sánh ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Điểm tương đồng ở ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Nhìn chung, cả ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm trên đều xuất hiện với một tần số lơn. Ở cả hai thiên truyện này, ánh sáng đều biểu tượng cho những điều tốt đẹp còn bóng tối biểu tượng cho hiện thực đen tối, nghiệt ngã. Bên cạnh đó, ánh sáng và bóng tối ở cả hai tác phẩm đều tồn tại trong thế giao tranh với nhau một cách gay gắt. Ngoài ra, ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ đều được xây dựng bằng bút pháp tương phản đối lập đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn.

Điểm khác biệt ở ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù vừa là ánh sáng và bóng tối của bức tranh thiên nhiên, không gian vừa là ánh sáng và bóng tối của lòng người. Bóng tối bao trùm khắp không gian ấy mang tính biểu tượng cho hiện thực đen tối của buồng giam nói riêng và của xã hội ngột ngạt hiện tại nói chung.

Trong bóng tối bao trùm ấy, ánh sáng vẫn le lói xuất hiện đến cuối cùng bùng cháy mãnh liệt dữ dội soi sáng cả lòng người. Cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối cũng chính là ánh sáng giữa thiện và ác. Đó là một cuộc chiến dai dẳng, khốc nghiệt. Cái đẹp tuy mỏng manh nhưng có thể hồi sinh ở bất cứ đâu, ở bất cứ ai. Cái đẹp khởi phát từ lòng người và sẽ đi đến lòng người.

Còn ở tác phẩm Hai đứa trẻ, ánh sáng lại nhỏ bé, yếu ớt còn bóng tối bao trùm, chiếm ưu thế. Thông điệp mà nhà văn Thạch Lam muốn gửi gắm đến bạn đọc là hãy thay đổi hiện thực để con người có thể sống trọn vẹn với ước mơ hi vọng của mình. Nhà văn Thạch Lam đã miêu tả ánh sáng cũng như bóng tối bằng thứ ngôn ngữ giàu chất thơ và giàu nhạc điệu hình ảnh.

Lý giải sự tương đồng khác biệt ở ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Khi phân tích ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ, ta thấy có những điểm tương đồng là do cả Thạch Lam và Nguyễn Tuân đều là những nhà văn lãng mạn, cùng sống trong hiện thực tăm tối trước 1945. Và điểm khác biệt là bởi yêu cầu bắt buộc của văn học (không cho phép sự lặp lại) và cũng bởi phong cách sáng tác riêng của mỗi nhà văn

Kết bài: Cả hai tác phẩm hai tác giả khác nhau sử dụng nghệ thuật ánh sáng bóng tối mang lại cho người đọc những liên tưởng và ý nghĩa khác nhau. Mỗi tác phẩm mang tới cho người đọc những ý nghĩa riêng biệt tuy nhiên cũng không thể phủ nhận chính nghệ thuật này góp phần vào sự thành công của hai thiên truyện.

Tìm hiểu dàn ý ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

Mở bài ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

  • Giới thiệu về tác giả Nguyễn Tuân và Thạch Lam cùng phong cách sáng tác của mỗi nhà văn.
  • Đề cập hình ảnh ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm này là chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa.

Thân bài ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

  • Đôi nét về các tác giả và hai tác phẩm Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.
  • Khái quát về ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.
  • So sánh ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.
  • Điểm tương đồng ở ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.
  • Điểm khác biệt ở ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.
  • Lý giải sự tương đồng khác biệt ở ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ.

Kết bài ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

  • Khái quát ý nghĩa và giá trị của hai tác phẩm trên.
  • Khẳng định chi tiết ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ góp phần giúp nhà văn thể hiện nội dung sâu sắc của tác phẩm.

Hy vọng qua bài viết về chủ đề phân tích và so sánh ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ đã cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích phục vụ cho quá trình học tập. Chúc bạn học tốt!

Tác giả: Việt Phương

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *